Phân tích các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định pháp luật hiện hành.
Cấu thành tội phạm là gì? Các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định như thế nào? Lawkey xin đưa thông tin đến bạn đọc ở bài viết dưới đây.
Cấu thành tội phạm là gì
Khái niệm: Cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu cần và đủ, đặc trưng cho tội phạm cụ thể được quy định trong luật.
Trong đó, căn cứ tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015 thì tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự.
Xem thêm: Tội phạm là gì? Phân loại tội phạm theo Bộ luật Hình sự.
Cấu thành tội phạm bao gồm bốn yếu tố chủ thể, khách thể, mặt khách quan và mặt chủ quan.
Chủ thể của tội phạm
Chủ thể tội phạm theo quy định của BLHS năm 2015 bao gồm hai đối tượng là cá nhân và pháp nhân thương mại.
Cá nhân
Cá nhân là chủ thể của tội phạm khi thực hiện hành vi phạm tội. Người phạm tội phải là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi nhất định mà BLHS quy định đối với mỗi loại tội phạm.
Theo đó năng lực trách nhiệm hình sự là khả năng nhận thức và điều khiển hành vi tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội. Ngược lại tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự là trong lúc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội thì người đó bị mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình. (Ví dụ: A bị bệnh tâm thần nặng, trong lúc lên cơn đã dùng gậy đánh người đi đường gây thương tích. Do tại thời điểm thực hiện hành vi, A không nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm và cũng không điều khiển được hành vi, nên A được xác định là không có năng lực trách nhiệm hình sự và không phải chịu trách nhiệm hình sự).
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo BLHS năm 2015 quy định người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. (Ví dụ nhóm tội hối lộ, tham nhũng thì chủ thể đủ tuổi nhưng cần phải có chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi vi phạm).
Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội quy định tại khoản 2 điều 12 BLHS năm 2015.
Pháp nhân thương mại
Pháp nhân thương mại bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác là chủ thể của tội phạm khi:
Có tư cách pháp nhân phải là tổ chức và được coi là có tư cách pháp nhân khi: được thành lập hợp pháp theo quy định của Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp hoặc các văn bản pháp luật khác có liên quan; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; nhân danh chính mình tham gia quan hệ pháp luật.
Theo quy định BLHS năm 2015 quy định điều kiện chịu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân thương mại khi: hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại, hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại; hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại; chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 27 của BLHS năm 2015.
Khách thể của tội phạm
Khái niệm: khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ, bị tội phạm xâm hại, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại.
Theo BLHS năm 2015 các quan hệ đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Mặt khách quan của tội phạm
Khái niệm mặt khách quan của tội phạm là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả của hành vi nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, công cụ, phương tiện, hoàn cảnh phạm tội… Thông qua biểu hiện bên ngoài ở mặt khách quan của tội phạm có thể đánh giá được tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm.
Hành vi nguy hiểm cho xã hội
Theo đó hành vi là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm. Nếu không có hành vi nguy hiểm cho xã hội thì không có tội phạm. Hành vi bao gồm hành vi hành động hoặc hành vi không hành động. Hành vi hành động là trường hợp chủ thể làm một việc mà Luật Hình sự đã có quy định cấm VD: hành vi của tội giết người, tội cướp tài sản,… Hành vi không hành động là trường hợp chủ thể có nghĩa vụ thực hiện một hoạt động nhất định nhưng họ đã không thực hiện nghĩa vụ trong khi có điều kiện thực hiện nghĩa vụ đó. (Ví dụ: hành vi trốn thuế, trốn tránh nghĩa vụ quân sự, hành vi của tội không cứu giúp người đang ở trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng,..)
Hậu quả
Hậu quả là thiệt hại do hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra cho quan hệ xã hội được Luật Hình sự bảo vệ, gồm thiệt hại vật chất và thiệt hại tinh thần. Hậu quả có ý nghĩa quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm. Hậu quả tác hại càng lớn thì mức độ nguy hiểm của tội phạm càng cao. Thiệt hại vật chất là những thiệt hại đo đếm, xác định được mức độ nhất định (Ví dụ: chết người, gây thương tích với tỷ lệ % tổn hại sức khỏe, thiệt hại tài sản được quy ra bằng tiền,..). Thiệt hại tinh thần là những thiệt hại khác mà không xác định được lượng mức độ thiệt hại. (Ví dụ: tội vu khống, tội làm nhục người khác, tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế, xã hội).
Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm
Hành vi khách quan phải là nguyên nhân làm phát sinh, gây ra kết quả đó là hậu quả của tội phạm. Dựa vào mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả có ý nghĩa xác định giai đoạn hoàn thành của tội phạm. Tội có cấu thành hình thức được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội ví như tội hiếp dâm, tội cưỡng dâm,. Còn tội có cấu thành vật chất được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gây ra hậu quả thực tế (ví dụ: tội cố ý gây thương tích hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác,…). Điều kiện của mối quan hệ nhân quả giữa hành vi của tội phạm dựa vào hành vi vi phạm phải xảy ra trước thời điểm phát sinh hậu quả, trong hành vi phải chứa đựng khả năng thực tế, nguyên nhân trực tiếp phát sinh hậu quả, một hậu quả xảy ra có thể do một hoặc nhiều hành vi gây ra.
Thời gian, địa điểm
Trong vụ án hình sự phải tồn tại ở thời gian và địa điểm nhất định. Trong một số trường hợp thì dấu hiệu về thời gian, địa điểm là yếu tố bắt buộc để cấu thành tội phạm. (Ví dụ: tội buôn lậu phải có địa điểm thực hiện là qua biên giới hay tội làm chết người trong khi thi hành công vụ phải được thực hiện trong thời gian đang thi hành công vụ,…)
Công cụ, phương tiện, phương pháp thực hiện tội phạm
Các dấu hiệu này không phải là dấu hiệu bắt buộc, có thể có hoặc không để định tội. Nếu trong một số tội phạm quy định dấu hiệu này là tình tiết định khung thì cơ quan, người tiến hành tố tụng phải chứng minh được để định danh tội phạm.
Mặt chủ quan của tội phạm
Khái niệm mặt chủ quan của tội phạm là những biểu hiện tâm lý bên trong của tội phạm được phản ánh qua hình thức động cơ, mục đích của tội phạm.
Theo đó lỗi là thái độ tâm lý của người thực hiện hành vi đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội và hậu quả do hành vi đó của mình gây ra, đây là dấu hiệu bắt buộc phải có ở mọi tội phạm.
Lỗi cố ý trực tiếp
Căn cứ tại khoản 1 Điều 10 BLHS năm 2015 lỗi cố ý trực tiếp là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó mà vẫn mong muốn nó xảy ra. (Ví dụ: A dùng dao đâm B vì muốn B chết, theo đó A nhận thức rõ và mong muốn hậu quả xảy ra).
Lỗi cố ý gián tiếp
Quy định tại khoản 2 Điều 10 BLHS năm 2015 Lỗi cố ý gián tiếp là việc người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra tuy không mong muốn hậu quả xảy ra nhưng cố ý (có ý thức được hành vi) để mặc cho nó xảy ra. (Ví dụ: B làm hàng rào điện để bảo vệ vườn cam nhà mình, hành vi đó có thể gây chết người, B không mong muốn hậu quả chết người nhưng bỏ mặc, chấp nhận nếu nó xảy ra).
Lỗi vô ý vì quá tự tin
Quy định tại khoản 1 Điều 11 BLHS năm 2015 lỗi vô ý vì quá tự tin là việc người phạm tội có khả năng nhận biết được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng lại cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc cho rằng mình có thể ngăn ngừa được hậu quả. (Ví dụ A vượt đèn đỏ vì vội và nghĩ mình có thể kiểm soát được, nhưng gây tai nạn chết người, theo đó A thấy trước được hậu quả nhưng không tin sẽ xảy ra).
Lỗi vô ý vì cẩu thả
Quy định tại khoản 2 Điều 11 BLHS năm 2015 lỗi vô ý vì cẩu thả là việc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù pháp luật quy định cho người này phải biết và đủ điều kiện để biết về hành vi gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội. (Ví dụ: A lái xe không quan sát, không thấy người qua đường và gây tai nạn không thấy trước hậu quả dù phải thấy trước).
Đặc biệt, ngoài bốn loại hình thức lỗi trên cần chú ý đến yếu tố sự kiện bất ngờ.
Động cơ, mục đích
Động cơ là động lực bên trong thúc đẩy con người thực hiện hành vi biểu hiện ra bên ngoài. Mục đích là kết quả trong ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi. Do vậy người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội có thể có động cơ phạm tội hoặc mục đích phạm tội, vì những tội có lỗi vô ý thì thường không có động cơ, mục đích rõ ràng trực tiếp đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội biểu hiện ra bên ngoài và đối với hậu quả mình gây ra.
Trên đây là tổng quan về cấu thành tội phạm và các yếu tố cấu thành tội phạm mà luật sư LawKey biên tập gửi bạn đọc. Hãy liên hệ ngay với luật Lawkey để được tư vấn chi tiết hơn.
Người đại diện tham gia tố tụng dân sự có thể thừa nhận chứng cứ thay đương sự không?
Theo quy định, người đại diện trong tố tụng dân sự được thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự [...]
Quy định pháp luật hiện hành về quỹ đại chúng
Quỹ đại chúng là quỹ đầu tư chứng khoán thực hiện chào bán chứng chỉ quỹ ra công chúng. Vậy pháp luật có những quy định [...]